Với nền công nghiệp hóa phát triển mạnh mẽ như hiện nay, thì các nguyên nhiên vật liệu cũng ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Và một trong những nhiên liệu quan trọng nhất trong ngành công nghiệp không thể thiếu được đó chính là dầu gốc. Vậy, dầu gốc là gì? Dầu gốc có những loại nào, tính chất và ứng dụng ra sao. Bài viết dưới đây, Tổng Kho Hóa Chất Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các kiến thức này. 

Dầu gốc là gì?

Dầu gốc (tên tiếng anh là Base Oil) là loại dầu thu được sau quá trình chế biến, xử lí tổng hợp bằng các tác nhân vật lý hay hoá học. Loại dầu này chính là phần chủ yếu để tạo nên dầu nhớt.

Thông thường, dầu gốc được chia ra làm 3 loại khác nhau là dầu gốc tổng hợp, dầu gốc khoáng và dầu bán tổng hợp. Mỗi loại có những đặc điểm và tính chất hoàn toàn khác nhau.


Dầu gốc được tạo ra bởi rất nhiều công đoạn khác nhau

Đặc điểm, tính chất của từng loại dầu gốc

Dầu gốc tổng hợp

Dầu tổng hợp (Synthetic) là loại dầu được sản xuất bằng cách tổng hợp những thành phần hoá chất, đặc biệt là những thành phần hoá chất này rất tinh khiết. Do được tạo ra bằng những hợp chất ban đầu nên dầu gốc tổng hợp có những tính chất định ra sẵn.

Dầu gốc tổng hợp thường đảm bảo yêu cầu về chất lượng như: đạt hiệu suất tối ưu để tạo nên chất lượng tốt nhất, bảo vệ động cơ bền bỉ, tiết kiệm nhiên liệu tối đa… cho sản phẩm nên thường được ứng dụng rất nhiều trong đời sống.

Bên cạnh đó, dầu gốc tổng hợp cũng có tính ổn định cao, khoảng thay đổi nhiệt độ lớn (từ -55 độ C đến 320 độ C), độ bền nhiệt lớn, nhiệt độ đông đặc thấp.

Ngoài ra vì được chọn lọc một cách kĩ càng nên nó sở hữu nhiều đặc điểm nổi trội như chỉ số độ nhớt, tính bôi trơn cao; độ bền cao và tính hao hụt cũng rất ít.

Nhờ có những đặc điểm nổi trội trên mà dầu tổng hợp đang ngày càng được nhiều đơn vị kinh doanh, sản xuất dầu nhớt sử dụng.

Tuy nhiên, dầu tổng hợp cũng mang một vài nhược điểm: chi phí giá thành cao; ít tương thích với các vật liệu kín như gioăng, phốt; tính thuỷ phân rất kém.


Dầu tổng hợp toàn phần mang nhiều đặc điểm nổi trội

Dầu gốc khoáng

Dầu gốc khoáng (viết tắt của cụm từ tiếng anh: Mineral Oil) là loại dầu thu được từ quá trình tinh cất, chế biến dầu mỏ. Thông thường, loại dầu này sẽ chiếm tỉ lệ cao trong thành phần của dầu nhớt gốc khoáng (90-100%). Có vai trò quyết định tính năng, đặc điểm và chất lượng của dầu nhớt.

Do sử dụng công nghệ hết sức đơn giản, nguyên liệu dễ kiếm nên dầu gốc khoáng có chi phí giá thành rẻ nhất trong tất cả các loại dầu nhớt bôi trơn. Phù hợp cho những người có thu nhập không cao hoặc những loại phương tiện bị cũ, động cơ không cần sử dụng tới loại dầu cao cấp.

Mặt khác, thành phần bên trong loại dầu này bao gồm các phân tử hidrocacbon liên kết không đồng nhất với nhau về kiểu hình dạng, kích thước hay các tính chất lý hoá. Bởi vì thế mà khả năng bôi trơn của loại dầu này không ổn định (nhất là trong môi trường có điều kiện nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao).

Thêm vào đó, các chuyên gia cũng nhận định rằng không có cách nào loại bỏ được hết tạp chất có nguồn gốc tự nhiên bên trong dầu gốc khoáng. Thế nên trong quá trình vận hành, những tạp chất này sẽ đóng lại phía bên trong động cơ và dần dần làm giảm khả năng bôi trơn.


Thành phần của dầu gốc tổng hợp đồng nhất hơn nhiều so với dầu gốc khoáng

Dầu bán tổng hợp

Dầu bán tổng hợp chính là sự kết hợp giữa 2 loại dầu đã nêu ở bên trên (trong đó dầu gốc khoáng thường chiếm tỉ lệ ít nhất 10% khối lượng).

Loại dầu này có hiệu suất trung bình, nhưng khả năng tiết kiệm nhiên liệu cho sản phẩm lại cao. Bên cạnh đó, chi phí của nó cũng thấp hơn nhiều so với loại dầu gốc tổng hợp bởi đặc tính lý hoá của nó.

Có thể bạn quan tâm: 

Dầu chống rỉ sét là gì? Những loại dầu chống rỉ sét hiệu quả nhất

Axit có những loại nào? Tính chất vật lý và hóa học của axit cần nắm vững

Tổng hợp các loại hóa chất xử lý nước thải được sử dụng nhiều hiện nay

Các nhóm dầu gốc

Hiện nay, dầu gốc được chia ra làm 5 loại:

Nhóm I

Là nhóm dầu gốc được tạo ra thông qua quá trình tinh chế, xử lí dung môi để loại bỏ những thành phần hoá học yếu hoặc các tác nhân xấu khỏi dầu thô.

Loại dầu này có hàm lượng lưu huỳnh (acid sulfuric) lớn hơn 300ppm; các thành phần paraffinic, naphthenic nhỏ hơn 90%; thành phần vòng không no có thể đạt tới hơn 10%. Tuy nhiên thành phần aromatic trong loại dầu này chiếm rất ít chỉ từ 1 – 2%.

Độ nhớt của dầu nhóm I là từ 80 đến 120 còn các loại dầu thông dụng hiện nay là 98 – 102 tuỳ loại.

Nhóm II

Dầu gốc nhóm II là loại dầu được kết hợp từ quá trình xử lí dung môi rồi sau đó sử dụng công nghệ hydro để tạo thành. Trong đó, khí hydro có tác dụng loại bỏ thành phần xấu trong dầu thô (quá trình này gọi là hydrocracking). So với nhóm I, nhóm II có chứa ít các cấu trúc vòng, thành phần lưu huỳnh và nitơ hơn.

Loại dầu này có hàm lượng lưu huỳnh rất nhỏ (< 0.03%), độ bão hoà > 90%, chỉ số độ nhớt thường từ 105 – 115, thành phần aromatic < 1%.

Bên cạnh đó, dầu gốc nhóm II hiện nay được sử dụng rộng rãi trên thị trường bởi nó có giá thành thấp tương đương nhóm I nhưng khả năng chống oxi hoá cao hơn và màu sắc rõ ràng hơn so với nhóm I.

Nhóm III

Dầu gốc nhóm III được sản xuất bằng dung môi và sử dụng kết hợp thêm các quá trình công nghệ cao (trong đó có hydrocracking) nên thành phẩm tạo ra có độ tinh khiết cao hơn.

Độ nhớt của loại dầu này khá cao (từ 120 – 135), hàm lượng lưu huỳnh và aromatic thấp, gần như không phát hiện ra. Nhược điểm của nó chính là độ nhớt động học rất thấp ở 40 độ C và 100 độ C.

Nhóm IV

Dầu gốc nhóm IV được gọi là dầu gốc PAO (viết tắt của Poly Alpha Olefin) được tạo ra từ các hóa chất vô cùng tinh khiết và được xử lí chế tạo trong các nhà máy. Hoàn toàn khác với các 3 loại dầu nhóm trên được sản xuất, tinh chế từ dầu thô.

Dầu PAO có những tính chất cao cấp như: độ nhớt cao >150, không chứa lưu huỳnh hay thành phần aromatic. Loại dầu này có chi phí giá thành rất cao, cao hơn nhiều so với 3 nhóm trên và thường được sử dụng ở những nơi có khí hậu khắc nghiệt.

Nhóm V

Dầu gốc nhóm V là tất cả các loại dầu khác nằm ngoài 4 nhóm trên: silicon, este, …Đặc biệt, loại dầu này thường được pha chế, trộn lẫn với dầu gốc nhóm khác để tăng chất lượng hay tính năng cho dầu nhớt sau khi thành phẩm: nâng cao độ bền nhiệt, tăng số giờ sử dụng lên, …


Bảng chỉ số tính chất của 5 nhóm dầu gốc

Ứng dụng của dầu gốc

Bởi những đặc tính lý hoá của nó, hiện nay dầu gốc được sử dụng để sản xuất các sản phẩm bao gồm mỡ bôi trơn, dầu động cơ, dầu thuỷ lực trong các loại máy công nghiệp hay dầu trong gia công kim loại. Mỗi sản phẩm khác nhau đều yêu cầu tính chất và thành phần khác nhau có trong từng loại dầu.

Ngoài ra còn có một vài loại dầu gia công kim loại tốt được tổng hợp từ dầu gốc ban đầu như dưới đây:

Dầu Prime Cut 106

Là loại dầu được sử dụng trong các sản phẩm cắt gọt kim loại, không bị pha lẫn nước.

Đặc điểm nổi bật là loại dầu này chứa rất ít mùi hoặc không có mùi, độ nhớt thấp. Được sử dụng chuyên để gia công cắt gọt kim loại, vật liệu có độ cứng cao như thép không gỉ. Và nó còn được dùng trong gia công các loại đá ruby hay sapphire, đây đều là những loại đá cao cấp.


Dầu Prime Cut 106 chuyên dùng trong gia công cắt gọt kim loại

Dầu Prime Guard P301

Đây là loại dầu chống gỉ với hàm lượng thành phần dầu gốc chứa trong nó lên tới hơn 70%.

Bên cạnh đó, nó còn mang trong mình các đặc điểm nổi trội: độ nhớt thấp, khó bị cháy nổ bởi độ chớp cháy cao, dễ dàng vệ sinh, phù hợp với yêu cầu của nhiều nhà máy, đạt tiêu chuẩn RoHs.

Dầu Prime Cool ST 40

Đây cũng là loại dầu dùng được dùng rất nhiều trong việc cắt gọt kim loại, được pha chế từ dầu gốc tổng hợp.

Loại dầu này không mùi, màu sắc trong suốt, dùng để gia công cho nhiều loại vật liệu, không để lại vết ố bẩn trên sản phẩm bởi màu sắc trong suốt, …


Prime Cool ST 40 cũng là loại dầu được dùng trong gia công cắt gọt kim loại

3 loại dầu trên đều là những loại dầu gia công kim loại xuất xứ từ đất nước Nhật Bản nên chất lượng và độ an toàn, ổn định của nó là vô cùng cao và được rất nhiều công ty, nhà máy tin dùng.

Qua bài viết trên, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn xem dầu gốc là gì, các tính chất, các loại và ứng dụng đa dạng của dầu gốc. Hi vọng bạn đọc trang bị được thêm những kiến thức bổ ích cho bản thân để áp dụng được vào đời sống và có cái nhìn tổng quan hơn về dầu gốc – loại dầu được sử dụng rộng rãi này.

 

Tác giả: Admin